Tàu thăm dò NASA ‘khoe’ nơi làm việc trên sao Hỏa

Tàu thăm dò NASA ‘khoe’ nơi làm việc trên sao Hỏa

,

Tàu thăm dò NASA khoe nơi làm việc trên sao Hỏa - Ảnh 1.

Bức ảnh sefie cho thấy InSight và nơi làm việc của mình trên sao Hỏa – Ảnh: NASA

Đây là bức ảnh sefie đầu tiên của tàu này kể từ khi đáp xuống sao Hỏa.

Bức ảnh cho thấy những tấm pin năng lượng và toàn bộ phần lưng của InSight, bao gồm nhiều thiết bị khoa học bên trong.

Điều đặc biệt là bức sefie này được tạo ra bởi 11 ảnh khác nhau. Camera của InSight hoạt động theo cơ chế chụp chồng liên tiếp một loạt ảnh, sau đó hệ thống xử lý ghép nối chúng lại với nhau.

Hệ thống chụp ảnh của InSight tương tự như của “người hàng xóm” Curiosity hiện vẫn đang hoạt động trên hành tinh Đỏ.

Tàu thăm dò NASA khoe nơi làm việc trên sao Hỏa - Ảnh 2.

Bức ảnh mô tả nơi làm việc tiềm năng của InSight trong địa hình bằng phẳng và gần như không có đá – Ảnh: NASA

Ngoài bức ảnh sefie, lần này InSight cũng gửi về mặt đất hình ảnh đầu tiên về không gian làm việc của tàu, được ghép từ 52 bức ảnh riêng biệt.

Trong những tuần tiếp theo, các nhà khoa học và kỹ sư sẽ tiếp tục nghiên cứu để xác định liệu đây có phải là nơi lý tưởng để vận hành các thiết bị hoạt động của InSight. 

Sau đó, các nhà khoa học sẽ gửi tín hiệu đến các cánh tay robot của InSIght thiết lập máy đo địa chấn và máy đo nhiệt bên dưới lòng đất sâu khoảng 5m khi tìm được địa điểm thích hợp, nhất là tránh những khối đá lớn hơn 1,3cm.

“Vùng đất gần như không có đá, không gồ ghề hay nhiều lỗ trũng sẽ vô cùng an toàn cho các thiết bị của chúng tôi” – ông Bruce Banerdt, giám sát trưởng của tàu Ínight nói. 

Đây cũng là một trong những lý do nhóm nghiên cứu quyết định cho InSIght đáp xuống vùng Elysium Planitia của sao Hỏa, vốn nổi tiếng với về sự bằng phẳng, ổn định, giàu cát và rất ít đá.

Trước đó, tàu InSight cũng đã gửi về Trái đất một đoạn âm thanh đầu tiên trên sao Hỏa. Dù Insight không được trang bị micro ghi âm nhưng có thể sử dụng cảm biến và máy đo địa chấn để ghi lại các sóng âm.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học,

Tàu thăm dò NASA ‘khoe’ nơi làm việc trên sao Hỏa



Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/buc-anh-sefie-dau-tien-cua-tau-tham-do-insight-tren-sao-hoa-2018121212550228.htm

‘Thế giới trong lòng đất’ khiến giới khoa học sững sờ

‘Thế giới trong lòng đất’ khiến giới khoa học sững sờ

,

Thế giới trong lòng đất khiến giới khoa học sững sờ - Ảnh 1.

Một dạng sinh vật lạ dưới mặt đất được phát hiện trong dự án – Ảnh: AFP

Nhân kỳ họp của Hiệp hội Địa vật lý Hoa Kỳ đang diễn ra từ ngày 10 đến 14-12 tại thành phố Washington, dự án Đài quan sát cacbon dưới lòng đất (Deep Carbon Observatory – DCO) gồm hơn 300 nhà khoa học từ 34 quốc gia đã công bố phát hiện chấn động về “thế giới sự sống dưới lòng đất”.

Trong gần 10 năm qua, những bộ óc lỗi lạc nhất thế giới đã miệt mài khám phá sinh quyển hoang dã và kỳ lạ nằm giữa bề mặt và lõi của Trái đất, nơi trí tưởng tượng chỉ vẽ ra một thế giới buồn tẻ của đất đá, bóng tối, nhiệt độ và áp suất cao…

“Chúng không phải món đồ trang trí Giáng sinh, nhưng những quả banh và sợi kim tuyến bé xíu của lòng đất có thể trang trí cây thông Noel đẹp như pha lê Swarovski. Tại sao tự nhiên tạo ra sự sống dưới lòng đất đẹp đến vậy khi không có ánh sáng và gương soi?

Jesse Ausubel (nhà khoa học môi trường Đại học Rockefeller)

Kỳ quan trong lòng đất

Đó là một phát hiện gây sững sờ cộng đồng khoa học. Họ ước tính sinh khối của sự sống ẩn náu ngay dưới chân chúng ta vượt xa những gì trên bề mặt – 15-23 tỉ tấn cacbon, tức gấp 245-385 lần tổng sinh khối của toàn thể loài người.

Từ con tàu nghiên cứu Chikyu của Nhật Bản, mũi khoan sâu 2,5km từ đáy biển giúp các nhà khoa học nhìn thấy “những khu rừng” sự sống rộng mênh mông sâu trong lòng đất. Kết quả đó tương tự hàng trăm hố khoan khác họ đã thực hiện trên khắp thế giới.

“Thậm chí trong điều kiện khắc nghiệt và không ánh sáng, các hệ sinh thái vi sinh vật vẫn tiến hóa một cách độc đáo” – ông Fumio Inagaki, nhà địa vi sinh vật người Nhật tham gia dự án DCO, không giấu được sự hào hứng.

Trong các khu rừng đó, những sinh vật của nó đã sinh sôi trong hàng triệu năm qua. Chúng không ăn gì ngoài hấp thụ năng lượng từ đất đá, chuyển động hết sức chậm rãi, hoặc ở trạng thái như “thây ma”.

Các dữ liệu thăm dò cho thấy sinh quyển dưới lòng đất trải rộng khoảng 2,3 tỉ km3, tức lớn gấp đôi thể tích toàn bộ đại dương trên bề mặt Trái đất. Theo phát hiện mới nhất của DCO, khoảng 70% vi khuẩn và cổ khuẩn của Trái đất sống trong thế giới đó.

Hiện tại, với những phương tiện sẵn có, con người chỉ mới ghi nhận sự sống ở độ sâu 5km dưới thềm lục địa và 10,5km dưới bề mặt đại dương. Một vài chủng loài như cổ khuẩn Geogemma barossii “làm tổ” ngay trong dòng thủy nhiệt dưới đáy biển, nơi nhiệt độ đạt đến 121oC!

“Sự sống dưới lòng đất có một tác động quan trọng đối với chu trình sinh địa hóa toàn cầu, do vậy ảnh hưởng đến thế giới bề mặt. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa hiểu hết tầm mức của tác động này” – tiến sĩ Kai-Uwe Hinrichs, Trung tâm khoa học môi trường biển thuộc Đại học Bremen (Đức), đưa ra nhận xét.

Từ Trái đất đến sao Hỏa

Thế giới trong lòng đất khiến giới khoa học sững sờ - Ảnh 4.

Hai loại vi sinh vật, cổ khuẩn màu đỏ và vi khuẩn màu xanh lá cây, phối hợp “bắt’ khí mêtan từ các miệng núi lửa dưới đáy biển – Ảnh: Katrin Knittel/MPI Bremen

Nếu có hàng triệu chủng loài sinh vật chưa từng được biết sinh trưởng, tiến hóa trong bóng tối của vỏ Trái đất, điều đó có nghĩa ngành nghiên cứu đa dạng sinh học của con người chỉ mới cào trên lớp bề mặt, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng!

Giới khoa học đang hết sức hào hứng. Hiểu được giới hạn của sự sống trên Trái đất sẽ giúp ích rất nhiều cho sứ mệnh tìm kiếm sự sống trên các hành tinh khác, chẳng hạn như sao Hỏa.

“Những gì học ở đây sẽ giúp chúng tôi hiểu cần phải tìm kiếm cái gì trên các hành tinh khác” – nhà sinh vật và hải dương học Rick Colwell, Đại học bang Oregon (Mỹ), trả lời Hãng tin AFP của Pháp.

Quan trọng hơn hết, phát hiện mới thay đổi triệt để quan niệm của con người về sự sống trên Trái đất, về vị trí của chúng ta trong đó. 70% vi sinh vật dưới lòng đất có thể đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiến hóa của bầu khí quyển, giữ lại khí CO2 để con người và sinh vật bên trên có thể hô hấp.

Đó cũng là manh mối giúp các nhà khoa học trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu hi vọng về một ngày nào đó họ sẽ hoàn thiện được công nghệ thu gom cacbon trong bầu khí quyển, ngăn được hiện tượng Trái đất nóng lên.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học,

‘Thế giới trong lòng đất’ khiến giới khoa học sững sờ



Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/the-gioi-trong-long-dat-khien-gioi-khoa-hoc-sung-so-20181212082349996.htm

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ ‘khoa học đen tối’?

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ ‘khoa học đen tối’?

,

Câu hỏi đặt ra gần như ngay lập tức sau tuyên bố “hai em bé chỉnh sửa gen đầu tiên trên thế giới đã chào đời” của nhà khoa học Trung Quốc Hạ Kiến Khuê (Jiankui He) chính là phải chăng một thời kỳ mới đáng sợ của công nghệ chỉnh sửa gen chính thức bắt đầu?

Ông Hạ Kiến Khuê đã dùng kỹ thuật CRISPR/Cas9 để chỉnh sửa gen trên phôi cho 7 cặp vợ chồng, kết quả là có hai phôi đậu thai thành cặp song sinh với hai bé gái Lulu và Nana. Hai em bé này – có khả năng miễn nhiễm HIV/AIDS – chào đời theo tuyên bố của nhà khoa học họ Hạ, hiện là giáo sư giảng dạy tại Đại học Khoa học và kỹ thuật Nam Phương (SUST, Thâm Quyến).

CRISPR là công cụ cho phép các nhà nghiên cứu kiểm soát gen nào được biểu hiện (trội) ở thực vật, động vật và cả con người, cũng như xóa các tính trạng (trait) xấu và thêm các tính trạng tốt vào bộ gen. Điều quan trọng là CRISPR cho phép thực hiện các chỉnh sửa trên nhanh hơn và chính xác hơn mọi kỹ thuật trước đây, theo trang VOX.

Theo công bố (chưa được xác minh) của Hạ Kiến Khuê, bố của hai bé gái dương tính với HIV. Vì thế, nhóm nghiên cứu đã chỉnh sửa phôi (từ thụ tinh ống nghiệm) của cặp vợ chồng này và loại bỏ gen CCR5, vốn là “cửa ngõ” để virút HIV xâm nhập cơ thể. Cách làm này để giúp đứa bé sinh ra với bộ gen được chỉnh sửa có khả năng miễn dịch với HIV/AIDS.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 1.

Nếu đúng như những gì họ Hạ tuyên bố, nhà khoa học Trung Quốc này sẽ là người đầu tiên trên thế giới dùng CRISPR chỉnh sửa gen trên phôi của con người và phôi sau này phát triển đến lúc sinh nở, bất chấp các lệnh cấm không chính thức của cộng đồng khoa học quốc tế về chỉnh sửa gen trên phôi người.

Hank Greely, giáo sư luật và đạo đức Đại học Stanford, gọi thí nghiệm của nhà nghiên cứu Trung Quốc họ Hạ là liều lĩnh vì tỉ lệ rủi ro trên lợi ích rất thấp cho đứa trẻ. Các nhà khoa học khác chỉ trích thí nghiệm là tàn ác và vô lương, trong khi 122 nhà khoa học Trung Quốc thậm chí còn cùng ký một bản lên án nghiên cứu của đồng nghiệp đồng hương.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 3.

Theo trang Quartz, dù mỗi quốc gia có thể có cách quản lý chuyện chỉnh sửa gen riêng, song xét quy mô toàn cầu thì chưa có một bộ quy tắc bắt buộc thực thi nào, chỉ có một bộ hướng dẫn mà các nhà nghiên cứu có thể tự nguyện tuân thủ chứ không bắt buộc. Khi đã có CRISPR thì không chóng thì chày, đến một lúc nào đó cũng sẽ có người ứng dụng nó lên phôi người, nếu không là Hạ Kiến Khuê thì cũng sẽ là một ai khác.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 4.

Tháng 4-2015, các nhà khoa học hàng đầu thế giới nhóm họp tại Thượng đỉnh quốc tế về chỉnh sửa gen trên con người ở thủ đô Washington DC (Mỹ). Sau 3 ngày thảo luận, hội nghị không thể đưa ra được các luật lệ, mà chỉ là bộ hướng dẫn.

Theo tường thuật của WIRED, bộ hướng dẫn không có tính chất bắt buộc này chẳng mang lại thay đổi gì cho toàn cục: “Mỹ vẫn sẽ cấm tài trợ các nghiên cứu chỉnh sửa gen trên phôi người và Chính phủ Trung Quốc vẫn sẽ cho phép việc này tiếp tục. Các quốc gia khác sẽ tranh cãi tiếp xem nên để các nhà khoa học của họ đi xa đến đâu trong việc chỉnh sửa gen trên con người”.

Quartz cho biết một trong các điểm trong hướng dẫn năm 2015 là có thể áp dụng CRISPR lên phôi con người, song phải theo đúng quy trình nghiên cứu và không được để phôi phát triển thành bào thai rồi sinh thành em bé.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 5.

Hạ Kiến Khuê đã để Lulu với Nana chào đời và việc này cho thấy ông phớt lờ các hướng dẫn nói trên. Chuyện này gây bất bình trong cộng đồng khoa học, nhưng vì mọi thứ theo nguyên tắc tự nguyện nên không thể nói Hạ đã vi phạm quy ước toàn cầu.

FT ngày 1-12 nhận định bi quan hơn khi cho rằng đây là khoảnh khắc tăm tối cho cả khoa học lẫn nhân loại, khởi đầu kỷ nguyên mà con người làm chủ được quá trình tiến hóa của chính mình: “Chúng ta đã có quyền năng mang đến các thay đổi vĩnh viễn cho bộ gen của mình và truyền lại nó vĩnh viễn cho đời sau”.

Nhưng không chỉ là vấn đề đạo đức. Theo trang Medical Express, cộng đồng khoa học đã chỉ trích việc Hạ Kiến Khuê để phôi được chỉnh sửa gen sinh ra thành em bé là “nguy hiểm, vô trách nhiệm và điên rồ”.

“Sẽ ra sao nếu quá trình chỉnh sửa mắc lỗi? Làm sao dám chắc kỹ thuật này có lợi cho nhân loại? Liệu chúng ta có sẵn sàng đối mặt các hậu quả của việc chỉnh sửa gen cho sự tiến hóa của chính chúng ta?” – bài viết đặt ra hàng loạt câu hỏi.

Việc ông Hạ chỉnh sửa gen chỉ để em bé sinh ra miễn nhiễm HIV cũng được cho là không cần thiết, do lẽ chưa chắc em bé sinh ra từ cha dương tính và mẹ âm tính với HIV cũng mắc bệnh này nếu sử dụng quá trình thụ tinh ống nghiệm thông thường.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 6.

Ngoài ra, đứa trẻ sinh ra dù chưa biết có chắc chắn miễn dịch với HIV không nhưng sẽ giảm khả năng đề kháng trước các bệnh khác như cúm và sốt Tây sông Nile, do lẽ gen CCR5 bị vô hiệu hóa vốn có vai trò quan trọng trong việc kháng các virút này, theo Medical Express.

Ngoài ra, kỹ thuật CRISPR có thể gây ra các đột biến ngoài ý muốn, có thể khiến hai bé gái lớn lên với nguy cơ mắc bệnh ung thư và các bệnh truyền nhiễm khác. Nghiêm trọng hơn, bộ gen được chỉnh sửa có thể gây hiểm họa cho nhân loại vì các thay đổi này sẽ truyền tiếp cho nhiều thế hệ tiếp theo thông qua di truyền.

Điều này đặt ra vấn đề liệu hai em bé lớn lên đến tuổi sinh sản có bị buộc triệt sản, nhằm ngăn không để các gen được chỉnh sửa chuyển tiếp đến thế hệ tương lai hay không?

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 8.

Trả lời phỏng vấn AP, Hạ Kiến Khuê cho rằng “xã hội sẽ quyết định” chuyện có nên chỉnh sửa gen phôi người hay không. Trong khi đó, Feng Zhang, đồng phát minh kỹ thuật CRISPR/Cas9, kêu gọi ban hành lệnh cấm tạm thời việc tiếp tục “sản sinh” những đứa trẻ chỉnh sửa gen.

Một đồng phát minh CRISPR/Cas9 khác là Jennifer Doudna cũng cho rằng công trình của Hạ Kiến Khuê “tái khẳng định nhu cầu cấp bách phải giới hạn kỹ thuật chỉnh sửa gen trên phôi thai người, chỉ được áp dụng trong những trường hợp có các nhu cầu y khoa chưa được đáp ứng và không có cách tiếp cận y học nào khả thi như khuyến nghị của Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ”.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 9.

Nhà sinh học người Mỹ David Baltimore, chủ nhân giải Nobel sinh lý học và y khoa năm 1975, cho rằng việc Hạ Kiến Khuê thực hiện thí nghiệm của mình cho thấy cộng đồng khoa học đã không thể tự quản lý (self-regulate) chính mình. Điều này chỉ ra một thực tế đáng sợ: cộng đồng khoa học không thể ngăn được những trường hợp các “nhà khoa học xấu” dùng kỹ thuật CRISPR cho nhiều ứng dụng tiềm ẩn nguy hiểm như định hướng tiến hóa, hay tăng khả năng của con người bằng cách chọn giữ lại các đặc tính gen tốt.

Tin tức về em bé Lulu và Nana được công bố chỉ một ngày trước khi các nhà khoa học tiếp tục nhóm họp cho Thượng đỉnh về chỉnh sửa gen trên con người lần 2 ở Hong Kong từ ngày 27 đến 29-11, sau 3 năm kể từ hội nghị đầu tiên.

Medical Express cảnh báo “chúng ta không thể để cho cá nhân các nhà khoa học quyết định vận mệnh của bộ gen loài người” và kêu gọi “cần phải có đối thoại toàn cầu, bao gồm các chuyên gia và công chúng, để đạt sự đồng thuận về việc phải làm gì với các công nghệ gen”. Các đối thoại đó từ đây sẽ diễn ra trong bối cảnh chuyện phôi được chỉnh sửa gen và cho sinh ra thành em bé không còn ở thể giả định nữa.

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ khoa học đen tối? - Ảnh 10.

TRƯỜNG SƠN

KIỀU NHI

BẢO SUZU

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học,

Em bé chỉnh sửa gen và thời kỳ ‘khoa học đen tối’?



Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/em-be-chinh-sua-gen-va-thoi-ky-khoa-hoc-den-toi-2018120901072705.htm

Báo cáo khoa học về biến đổi khí hậu: Các ông lớn tranh cãi từng chữ

Báo cáo khoa học về biến đổi khí hậu: Các ông lớn tranh cãi từng chữ,

Báo cáo khoa học về biến đổi khí hậu: Các ông lớn tranh cãi từng chữ - Ảnh 1.

Tuần hành vì khí hậu tại Katowice, Ba Lan – Ảnh: REUTERS

Gần 200 quốc gia tham gia ký kết Hiệp định Paris năm 2015 vừa bắt đầu tuần làm việc thứ hai tại Katowice (Ba Lan) để hoàn tất một bộ quy chuẩn, nhằm kìm hãm sự tăng nhiệt của Trái đất ở dưới mức 2oC so với thời kỳ tiền công nghiệp và tiếp tục nỗ lực hạn chế sự gia tăng nhiệt đến 1,5oC.

Tuy nhiên, mọi chuyện không hề đơn giản khi đụng đến lợi ích quốc gia, đặc biệt về sử dụng năng lượng hóa thạch. Ví dụ rõ nét nhất là báo cáo khoa học của GIEC (Nhóm chuyên gia liên chính phủ chuyên về tiến triển khí hậu) đã bị các nhà ngoại giao một số nước tranh cãi từng chữ một.

Đó là các nước có tiềm lực về dầu mỏ như Mỹ, Nga, Saudi Arabia và Kuwait. Đại diện bốn nước này chỉ chấp nhận “ghi nhận” chứ không “chấp nhận” báo cáo. Cuộc tranh luận không đi đến hồi kết và hai bên ủng hộ với phản đối chỉ đạt đến thống nhất là… tiếp tục bàn lại vào mùa xuân năm tới.

Ông Jean Jouzel, nhà khí tượng học của Pháp, nhận định: “Tôi tin các nước đó không chấp nhận kết luận chính của báo cáo, theo đó yêu cầu phải giảm thật nhanh việc thải khí CO2. Để giữ mức tăng nhiệt độ chỉ 1,5oC, phải đạt được mức cân bằng cacbon vào năm 2050.

Tôi tin các nước đó không chấp nhận kết luận trên, vì nếu đồng ý thì phải có hành động gì đó. Nói chung, đây là một thông tin xấu vì các nước đó đã phản bác chính các nhà khoa học của họ”.

Tuy cuộc tranh cãi về câu chữ trong báo cáo chỉ là một hoạt động nhỏ của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu năm 2018 (COP24) đang diễn ra tại Ba Lan, bên cạnh các cuộc đàm phán chính thức vẫn đang diễn ra, nhưng đó cũng là một tín hiệu cho thấy cuộc chiến chống biến đổi khí hậu còn lắm gian nan.

Bà Valérie Masson-Delmotte, đồng chủ tịch của một trong những nhóm làm việc của GIEC, đã viết trên Twitter: “Có gì không ổn trong báo cáo của chúng tôi để mà bốn chính phủ trên không phê chuẩn các kết luận? Báo cáo này trong khi đó lại do các chính phủ đặt hàng thực hiện hồi COP21 và trong phiên họp toàn thể của GIEC cũng đã được chính các chính phủ đó phê duyệt cơ mà?”.

Theo báo cáo dựa trên kết quả khảo sát mới nhất của Viện Khí hậu mới và Tổ chức phi chính phủ Germanwatch công bố ngày 10-12, Mỹ và Saudi Arabia hiện đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng Chỉ số cải thiện biến đổi khí hậu (CCPI) của 56 quốc gia trên thế giới vốn chiếm tới 90% lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính – nguyên nhân khiến Trái đất ấm lên.

Các nước đứng trong tốp cuối của bảng xếp hạng trên còn có Iran, Hàn Quốc, Úc, Canada, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Báo cáo khoa học về biến đổi khí hậu: Các ông lớn tranh cãi từng chữ

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/bao-cao-khoa-hoc-ve-bien-doi-khi-hau-cac-ong-lon-tranh-cai-tung-chu-20181212082152947.htm

Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất

Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất,

Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất - Ảnh 1.

Một con giun tròn trong màng sinh học của các vi sinh vật dưới mặt đất – Ảnh: Science Daily

Mặc dù nhiệt độ cực cao, không có ánh sáng, rất ít dinh dưỡng và áp lực cực mạnh nhưng các nhà khoa học ước tính hệ sinh quyển dưới lòng đất có khoảng từ 15-23 tỉ tấn vi sinh vật.

Sự đa dạng của các loài ở hệ sinh quyển dưới lòng đất có thể sánh với hệ sinh quyển tại rừng Amazon hay quần đảo Galápagos nhưng môi trường lại không giống do con người hầu như chưa thăm dò hệ sinh quyển dưới lòng đất, theo các nhà khoa học thuộc chương trình nghiên cứu toàn cầu ‘Deep Carbon Observatory’.

“Điều đó giống như việc tìm thấy nguồn sống mới trên Trái đất. Chúng ta phát hiện ra những dạng sống mới. Hầu hết những dạng sống này nằm trong lòng đất hơn là nằm trên bề mặt đất” – giáo sư Karen Lloyd của ĐH Tennessee ở Knoxville, Mỹ nhận định.

Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất - Ảnh 2.

Tế bào hình que màu xanh và tím là một loài vi khuẩn sống trên phân tử khí hydro – Ảnh: Science Daily

Các mẫu trong nghiên cứu được lấy từ các lỗ khoan sâu hơn 5km và các điểm khoan dưới biển để xây dựng các mô hình của hệ sinh quyển và ước tính lượng carbon vận động trong hệ.

Theo báo Guardian, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 70% vi khuẩn và cổ khuẩn của Trái đất tồn tại dưới mặt đất. Điều kỳ diệu là một số vi sinh vật có thể tồn tại hàng thiên niên kỷ. Chúng hoạt động trao đổi chất nhưng sử dụng rất ít năng lượng để hỗ trợ cho sự sống.

Nhà sinh thái học về vi sinh Rick Colwell của ĐH Bang Oregon cho biết thời gian của cuộc sống dưới mặt đất hoàn toàn khác so với trên mặt đất. Một số vi sinh vật đã tồn tại hàng ngàn năm, hầu như không di chuyển ngoại trừ sự dịch chuyển trong các mảng kiến tạo do động đất hoặc phun trào núi lửa.

Hệ sinh quyển dưới mặt đất cũng khác nhau tùy thuộc địa chất và địa lý.

Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất - Ảnh 3.

Hệ sinh quyển bên dưới mỏ sắt ở Soudan, Minnesota, Mỹ – Ảnh: deepcarbon.net

Có hơn 1.200 khoa học gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau từ 52 quốc gia trên thế giới tham gia chương trình ‘Deep Carbon Observatory’ nghiên cứu về sự vận động của carbon bên dưới bề mặt Trái đất.

Nghiên cứu kéo dài 10 năm với khoản kinh phí 500 triệu USD sẽ kết thúc vào năm 2019.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Có tới 15-23 tỉ tấn vi sinh vật dưới mặt đất

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/co-toi-15-23-ti-tan-vi-sinh-vat-duoi-mat-dat-20181211122123122.htm

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt,

TTO – Chỉ ba tháng sau khi gây bất ngờ bằng việc đồng ý đảm nhận công việc mới tại Việt Nam, giáo sư Vũ Hà Văn lại tiếp tục gây sự chú ý bằng việc công bố một dự án nghiên cứu mới: Giải mã bộ gen người Việt.

Giáo sư Vũ Hà văn chia sẻ với Tuổi Trẻ Online về dự án đầu tiên trên cương vị giám đốc khoa học của Viện Big Data sau 3 tháng viện này công bố thành lập.   

Nghiên cứu những sản phẩm “không ai làm hộ”

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt - Ảnh 1.

* Việc Viện Big Data chọn dự án nghiên cứu về bộ gen người Việt là dự án mở đầu đang gây không ít bất ngờ và băn khoăn của giới khoa học vì dường như tên tuổi giáo sư khiến người ta thường liên tưởng đến những đề tài nghiên cứu về tính toán, toán học?

– Dự định của tôi khi bắt đầu công việc với Viện Big Data là sẽ triển khai những nghiên cứu có khả năng mang lại ứng dụng cao cho xã hội, chúng tôi không hẳn đặt trọng tâm vào nghiên cứu lý thuyết hay khoa học cơ bản. Vả lại, trong khoa học hiện đại, mô hình toán học sẽ luôn có mặt trong tất cả các nghiên cứu.

Thực ra, viện chúng tôi đang có nhiều dự án, trong đó nghiên cứu về bộ gen người Việt là dự án đầu tiên công bố chính thức. 

Tôi đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để tìm hướng đi và nhận được nhiều gợi ý, nhiều lựa chọn nhưng đây là dự án được quyết định công bố đầu tiên vì nghiên cứu này phù hợp với định hướng chung của lãnh đạo tập đoàn.

Về công nghệ, trên thế giới có rất nhiều hướng nghiên cứu. Với hoàn cảnh Việt Nam hiện tại, chúng tôi hướng tới các tiêu chí: tận dụng được những đột phá trong công nghệ thế giới thời gian gần đây; tận dụng cơ sở dữ liệu của người Việt; hướng tới những vấn đề mà nếu người Việt mình không làm thì không ai giải quyết cho mình và cuối cùng là hướng tới những ứng dụng mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Dự án nghiên cứu bộ gen người Việt đạt được cả bốn mục tiêu này.

Khi thực hiện dự án này, chúng tôi sẽ giải trình tự và phân tích hàng nghìn hệ gen người Việt, do đó kết quả của nghiên cứu sẽ là dữ liệu hệ gen đặc trưng của chúng ta. Đây rõ ràng là vấn đề mà mình không làm thì không ai có thể làm hộ mình. 

Cuối cùng là kết quả mang lại, chúng ta sẽ có cơ sở dữ liệu phục vụ các nghiên cứu về gen có thể ứng dụng trong việc xác định nguyên nhân gây bệnh và đáp ứng thuốc theo đặc trưng hệ gen. Từ đó hỗ trợ việc chẩn đoán và điều trị cho người Việt.

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt - Ảnh 2.

GS Vũ Hà Văn và các thành viên tham gia chương trình “Sách hóa nông thôn”

* Có vẻ mục tiêu của dự án khá tham vọng. Vậy giáo sư đã có lộ trình cụ thể để triển khai dự án như thế nào?

– Dự án sẽ thực hiện theo ba bước. Thứ nhất, lấy mẫu trên khoảng 1.000 người Việt khỏe mạnh. Thứ hai, giải trình tự và phân tích dữ liệu. Các bước này có thể làm song song mà không cần đợi đủ 1.000 mẫu mới triển khai.

Ví dụ, khi có khoảng 50 mẫu là có thể bắt đầu quá trình giải trình tự và phân tích. Sau khi phân tích xong, các cơ sở dữ liệu biến dị di truyền tham chiếu được hình thành. Đây sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Thứ ba, làm nghiên cứu ứng dụng, ví dụ nghiên cứu về nguyên nhân di truyền của từng bệnh, khi đó ta sẽ phải lấy tiếp mẫu những người bệnh, sau đó tìm ra các gen liên quan đến bệnh, từ đó có thể xây dựng các kit xét nghiệm để chẩn đoán bệnh.

Việc lấy mẫu người bệnh cũng có thể làm song song với việc lấy mẫu người khỏe. 

Ngoài nghiên cứu nguyên nhân di truyền của bệnh phục vụ việc chẩn đoán theo đặc trưng hệ gen, chúng tôi cũng sẽ thực hiện các nghiên cứu xác định đặc trưng hệ gen liên quan đến đáp ứng thuốc. Ví dụ xác định xem biến dị nào liên quan đến phản ứng có hại của thuốc.

Nghiên cứu này có thể hỗ trợ công tác điều trị bệnh…

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt - Ảnh 3.

* Tại sao dự án của giáo sư ấn định ở con số chọn gen của 1.000 người, số mẫu đó đã đủ để giải mã bộ gen người Việt? 1.000 người này sẽ được chọn như thế nào, thưa giáo sư?

– Con số 1.000 mẫu gen tương đối lớn để làm cơ sở dữ liệu cho môt số nghiên cứu có bản về sau. Hiện ở Đông Nam Á với quy mô 1.000 người đã là một đề tài tầm cỡ, không phải nước nào cũng làm được.

Trước tiên họ là người tình nguyện tham gia nhưng phải đáp ứng các tiêu chuẩn của nghiên cứu. Khi những người tình nguyện đăng ký tham gia, chúng tôi sẽ phỏng vấn xem từng người có phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn không. Một số xét nghiệm khác cũng có thể được thực hiện để đảm bảo chất lượng mẫu.

Tất cả những người tham gia đều phải ký vào văn bản đồng thuận tham gia nghiên cứu với các quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng. Thông tin cá nhân của những người tham gia nghiên cứu sẽ được bảo mật. 

Việc chọn ít nhất 1.000 người khỏe này về góc độ chuyên môn đủ để xác định được biến dị nào là phổ biến/hiếm. 

Sau khi có cơ sở dữ liệu của 1.000 người khỏe làm tham chiếu, muốn ứng dụng vào nghiên cứu bệnh nào thì tiếp tục phải chọn ra những người bị bệnh đó. 

Việc chọn mẫu bệnh để nghiên cứu cũng phải đảm bảo những tiêu chí dưới sự tư vấn của chuyên gia thuộc lĩnh vực bệnh đó.

Nghiên cứu về gen là nghiên cứu tương đối mới và đắt. Cách đây 10 năm, nếu làm dự án với quy mô như thế này, phải các nước có tiềm lực khoa học rất lớn như Anh, Mỹ mới làm được vì phải tốn hàng tỉ USD. 

Vào thời điểm này, chúng ta có lợi thế khoa học đã phát triển nhanh đến mức có thể tiến hành với chi phí ít hơn rất nhiều.

GS Vũ Hà Văn và các thành viên chính trong nhóm nghiên cứu giải mã gen người Việt tại Viện Big Data

* Giới khoa học Việt Nam cũng đã từng có những dự án nghiên cứu về gen người Việt nhằm mục đích chữa bệnh, dự án nghiên cứu của giáo sư có dự định sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có không?

– Tất nhiên chúng tôi sẽ học hỏi kinh nghiệm những người đi trước và kế thừa các nghiên cứu của họ. 

Theo tìm hiểu của chúng tôi, các đề tài nghiên cứu về gen ở Việt Nam trước đây nhỏ hơn, với quy mô phân tích khoảng vài chục bộ gen, hoặc làm vài gen trên một bệnh cụ thể.

* Đây là hướng nghiên cứu rất mới, không chỉ với Việt Nam mà với cả thế giới. Đặt mục tiêu cao như vậy cho dự án, viện có giải quyết được bài toán nhân lực khi mà nhân lực nghiên cứu lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất ít, thưa ông?

Chúng tôi sẽ hợp tác với nhiều bệnh viện và những viện nghiên cứu, trường đại học ở cả Viẽt Nam và nước ngoài cũng như mời thêm các chuyên gia trong và ngoài nước theo từng nhu cầu và giai đoạn dự án.

Giải trình tự và phân tích 1.000 hệ gen người là một khối lượng công việc rất lớn. Ngoài việc dành hơn 1 triệu USD, khoảng 25% kinh phí đầu tư cho dự án, để mua sắm hệ thống tính toán lớn, phần mềm phân tích, hệ thống lưu trữ, chúng tôi cũng đã triển khai đồng thời các bước chuẩn bị về đội ngũ nghiên cứu.

Hiện chúng tôi đã tập hợp được một số nhà khoa học trẻ giàu năng lực và rất nhiệt huyết về làm việc ở Viện, như các PGS. Lê Đức Hậu hay Lê Thị Lý – những gương mặt trẻ đầy triển vọng trong lĩnh vực tin sinh học.

Chúng tôi cũng đang hoạch định chương trình cử nghiên cứu viên đi đào tạo tại Mỹ, Đức, Nhật Bản, Singaprore và mời nhiều chuyên gia các nước tới tham gia, tư vấn cho dự án.

Cũng xin nói thêm trong khuôn khổ dự án nghiên cứu này, chúng tôi còn thực hiện chương trình đào tạo đội ngũ nhân lực lĩnh vực tin y sinh tương đối mới mẻ cho Việt Nam, bằng cách nhận một số nghiên cứu sinh vào làm việc tại viện. 

Qua đó, chúng tôi hi vọng hỗ trợ xây dựng nhân lực cho các viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam.

Cần đặt mục tiêu không vì lợi nhuận

* Đầu tư 4,5 triệu USD cho dự án nghiên cứu này, giáo sư có gặp khó khăn gì trong việc thuyết phục ông Phạm Nhật Vượng chấp thuận? Giáo sư và tập đoàn Vingroup có phải thỏa thuận đặt mục tiêu thu lại được gì từ dự án này?

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt - Ảnh 5.

– Tôi đã gặp nhiều nhà khoa học Việt Nam để tìm kiếm ý tưởng nghiên cứu phù hợp nhất với những mong muốn của bản thân và Viện Big Data. 

Khi có dự định này, tôi đã thuyết phục anh Vượng đây là dự án phù hợp nhất với định hướng phục vụ cộng đồng mà chúng tôi đã chia sẻ với nhau ngay từ đầu, phù hợp với những mục tiêu khi quyết định thành lập viện.

Dự án này không đặt mục tiêu thu lợi nhuận. Hệ thống dữ liệu gen người Việt chúng tôi xây dựng sẽ là hệ thống dữ liệu mở. Anh Vượng đã khẳng định với tôi là Vin group sẽ sẵn sàng cung cấp dữ liệu sử dụng trong nước và cả cho thế giới, cũng như hỗ trợ chẩn đoán và điều trị bệnh.

Ở góc độ làm khoa học, dữ liệu sẽ mở theo cách cung cấp thông tin, cho phép các nhà khoa học cần dữ liệu có thể tra cứu được ngay. Chúng tôi tính đến việc xây dựng một website trong tương lai để hỗ trợ việc này.

Dự án này, theo tôi, có nhiều ý nghĩa về khoa học và cộng đồng. Mục đích hữu ích hơn cả chính là sự chuẩn bị cho các nghiên cứu và ứng dụng tương lai của y học. Khi đó, việc chẩn đoán và điều trị bệnh được thực hiện dựa trên đặc trưng hệ gen (y học cá thể hóa). 

Muốn tăng chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng đây là việc cần làm…

* Thưa giáo sư, ngoài dự án này giáo sư còn triển khai những dự án nào để tạo ra nguồn dữ liệu của viện nói riêng và của Việt Nam nói chung?

– Viện chúng tôi cũng đang triển khai một số dự án khác như bắt đầu khởi động dự án nghiên cứu về hình ảnh, chẳng hạn như sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh y tế. Đây cũng là dự án rất ý nghĩa, dùng AI xử lý ảnh, giúp các bác sĩ giảm sai số trong chẩn đoán.

Dự án này đang được thực hiện bởi nhóm của TS Đào Đức Minh – một trong những chuyên gia uy tín trong lĩnh vực AI và xử lý hình ảnh.

Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt - Ảnh 6.

* Sau ba tháng nhận vị trí giám đốc khoa học của Viện Big Data, đã có lúc nào sự khác biệt giữa một nhà khoa học vốn quen làm việc trong môi trường đại học và làm khoa học ở một doanh nghiệp khiến giáo sư thấy e ngại? Trong ba tháng qua, đã có những tin đồn cho rằng giáo sư muốn “bỏ cuộc” vì tiêu tiền doanh nghiệp không dễ?

– Muốn thúc đẩy nghiên cứu khoa học thì doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, đây là thực tế trên toàn thế giới. Phần lớn những sản phẩm công nghệ ta đang dùng hàng ngày là do doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển nhưng hiện tại ở Việt Nam hiện có rất ít doanh nghiệp đủ tầm để làm những việc này.

Nghiên cứu là đầu tư rủi ro, nghiên cứu không phải cái nào cũng thành công, không phải thành công nào cũng tạo ra sản phẩm bán được và không phải sản phẩm nào bán cũng có lãi.

Vingroup là một trong những tập đoàn dẫn đầu lĩnh vực này. Đó là điểm mấu chốt khi tôi lựa chọn làm việc. Tất nhiên, doanh nghiệp có cách quản lý của doanh nghiệp, làm khoa học ở doanh nghiệp khác nhiều so với làm việc trường đại học (cười).

Tôi nhận biết được sự khác biệt rõ ràng đó nên chắc chắn trong tương lai sẽ có những khó khăn, vướng mắc, mà chúng tôi phải cùng tìm cách giải quyết. Chẳng hạn trong kinh doanh mọi việc thường phải tiến triển rất nhanh nhưng trong khoa học thì cần có độ kiên nhẫn nhất định.

Sau 3 tháng, chúng tôi cũng có thể tạm hài lòng là đã có một khởi đầu tương đối tích cực.

* Xin cảm ơn giáo sư!

Những khoảnh khắc đời thường của GS Vũ Hà Văn với bố – nhà thơ Vũ Quần Phương (ảnh cuối bên phải), hai con trai và người thân, bạn bè

THANH HÀ

T.HÀ – T.HẢI – TƯ LIỆU

VŨ HOÀNG

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Giáo sư Vũ Hà Văn: Từ toán học đến nghiên cứu giải mã gen người Việt

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/giao-su-vu-ha-van-tu-toan-hoc-den-nghien-cuu-giai-ma-gen-nguoi-viet-20181210182902053.htm

Chỉnh sửa gen phức tạp ra sao?

Chỉnh sửa gen phức tạp ra sao?,

TTO – Khi nhà khoa học Hạ Kiến Khuê công bố tạo ra 2 bé gái song sinh chỉnh sửa gen, cả thế giới thật sự bị sốc. Vậy chỉnh sửa gen là gì? Và công nghệ quyền lực này sẽ mang lại điều gì cho chúng ta?

ÂN ĐÌNH

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Chỉnh sửa gen phức tạp ra sao?

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/chinh-sua-gen-phuc-tap-ra-sao-20181210161038706.htm

Trồng chuối không cần… đất

Trồng chuối không cần… đất,

Trồng chuối không cần... đất - Ảnh 1.

Giống chuối Cavendish (chuối Nam Mỹ) – Ảnh: ALAMY

Nghiên cứu được thực hiện với sự hợp tác của nhà sản xuất và cung cấp chuối hàng đầu thế giới Chiquita Brands International.

Theo báo Financial Times, Giáo sư Kema và các đồng nghiệp của ông cũng đang nghiên cứu các chương trình lai tạo giống chuối sử dụng các giống chuối hoang có khả năng kháng nấm.

“Điều cốt lõi trong chiến lược của chúng tôi là đa dạng hóa các sản phẩm chuối”, ông Gert Kema, chuyên gia hàng đầu về chuối kiêm trưởng khoa bệnh thực vật nhiệt đới của đại học Wageningen tại Hà Lan, cho biết.

Bệnh nấm Panama (còn gọi là “bệnh vàng lá Panama” ở chuối) là một loại bệnh do nấm lưu tồn trong đất gây ra. Tại Việt Nam, bệnh này là một trong những vấn đề trở ngại trong sản xuất chuối trong nước.

Bệnh lây lan thông qua hoạt động lưu chuyển của đất, chủ yếu do người lao động và máy móc. Theo đó, việc trồng chuối trong nhà kính bằng cách sử dụng bông khoáng (rockwool) và dưỡng chất cho cây sẽ giúp cách ly chuối khỏi loại nấm này.

Được xác định tại Đài Loan từ đầu năm 1960, chủng nấm TR4 gây bệnh nấm Panama đã lây lan trên khắp châu Á và Úc, lan đến tận các bờ biển Mozambique và tới cả Trung Đông.

Người ta lo ngại chủng nấm bệnh này sẽ lan đến châu Mỹ La tinh và đe dọa nghiêm trọng các trang trại vốn đang cung cấp 3/4 lượng chuối xuất khẩu toàn thế giới.

Giới khoa học đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp ngăn chặn bệnh nấm Panama. Tuy nhiên hiện chưa có cách xử lý hiệu quả trong tình huống cây chuối bị nhiễm nấm. 

Giải pháp duy nhất hiện nay là cố gắng phòng ngừa việc lưu chuyển đất đã bị nhiễm bệnh, các cây đã nhiễm nấm và các vật chất nhiễm bệnh tới những vùng không có bệnh.

Bệnh nấm Panama đang tàn phá các mùa vụ chuối ở nhiều trang trại trên toàn thế giới, đe dọa sự phát triển của giống chuối Cavendish (chuối Nam Mỹ), giống chuối đang chiếm tới 95% tổng số chuối bán ra trong ngành công nghiệp trị giá 36 tỉ USD toàn cầu.

D. KIM THOA

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Trồng chuối không cần… đất

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/trong-chuoi-khong-can-dat-20181210135336281.htm

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ,

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ - Ảnh 1.

Ảnh: topsimage.com

Hạn hán, lũ lụt, triều cường, bão ngày càng mạnh, sự tận diệt các loài tự nhiên, Trái đất ấm dần lên…, những hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu đã được nghiên cứu nhiều và được trải nghiệm khắp mọi nơi.

Nhưng sự thay đổi cực đoan mà con người đang gây ra cho môi trường còn mang tới nhiều tác động khác, lạ lùng nhưng không kém phần đáng sợ.

Giới nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu không chỉ từ những ý nghĩa môi trường và thiên tai, mà cả các tác động trực diện hơn lên đến đời sống con người, bao gồm y tế công cộng và quản trị nhà nước.

Những hậu quả y tế công

Ở những ngôi làng nhỏ dọc bờ biển phía đông Bangladesh – một trong các nước bị biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề nhất, các nhà nghiên cứu mới đây đã lưu ý tỉ lệ sẩy thai đặc biệt cao. Nghiên cứu xa hơn, giới khoa học đi tới kết luận thủ phạm là… biến đổi khí hậu.

Trong khi các ca sẩy thai không phải là điều gì quá khác thường, những nhà khoa học đã theo dõi một cộng đồng ở làng Failla Para trong nhiều năm và nhận thấy sự thay đổi rõ rệt về địa hình địa mạo ở đây.

Tới những năm 1990, các vùng đất trũng trong làng vẫn có thể trồng lúa, dù là năng suất thấp. Ngày nay thì điều đó không khả thi nữa. Nước biển dâng đã khiến nước mặn hơn nhiều và khiến người dân buộc phải chuyển dần sang nuôi tôm hoặc làm muối.

“Biến đổi khí hậu đang gây ra sự thay đổi rõ rệt – tiến sĩ Manzoor Hanifi, chuyên gia của Trung tâm quốc tế về nghiên cứu bệnh tả ở Bangladesh (ICDDRB), nói với BBC – Ảnh hưởng lên đất đai là rõ ràng, nhưng tác động lên con người là điều chúng ta không nhìn thấy”.

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ - Ảnh 2.

Biến đổi khí hậu khiến cường độ bão ngày càng mạnh, song nó còn gây nhiều vấn đề khác mà con người ít chú ý như sức khỏe, y tế… – Ảnh: AFP

ICDDRB đã thực hiện một chương trình thăm dò nhân khẩu học và y tế ở huyện Chakaria, thuộc tỉnh ven biển đông nam Bangladesh Cox’s Bazaar, 30 năm qua. Vài năm trở lại đây, nhiều gia đình ở vùng này đã phải chuyển nhà vào sâu hơn trong nội địa. Những người có điều kiện chuyển nhà này đã sống tốt hơn so với những người phải ở lại vùng nước ngập mặn.

Cụ thể, các phụ nữ sống trong nội địa ít bị sẩy thai hơn. Từ năm 2012 tới 2017, các nhà khoa học của ICDDRB đã ghi nhận 12.867 trường hợp mang thai trong vùng. Những phụ nữ mang thai ở các vùng ven biển, sống cách bờ biển trong phạm vi 20km và trên mực nước biển chỉ 7m có khả năng sẩy thai cao hơn 1,3 lần so với phụ nữ trong nội địa.

Các nhà khoa học tin rằng điều này là bởi lượng muối trong nước uống của những phụ nữ mang thai tăng lên vì biến đổi khí hậu.

Mực nước biển đang tăng một phần vì băng tan ở hai đầu cực, nhưng cũng vì nhiệt độ Trái đất tăng tác động lên áp suất khí quyển. “Áp suất khí quyển chỉ cần giảm một millibar – tiến sĩ Hanifi phân tích – thì mực nước biển sẽ tăng thêm 10mm”.

Khi nước biển dâng, nước mặn sẽ hòa vào nước ngọt của sông suối, rồi ngấm vào đất. Quan trọng hơn, nó có thể ngấm vào nước ngầm ở tầng ngậm nước và làm nhiễm mặn nước ngọt. Dân làng Failla Para chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm này làm nước sinh hoạt qua các giếng đào.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện khuyến cáo không nên sử dụng quá 5g muối mỗi ngày. Ở Chakaria, những người dân sống ven biển sử dụng khoảng 16g muối mỗi ngày – hơn gấp ba lần so với những người sống trong nội địa.

Là một nước nghèo và đất trũng, Bangladesh đặc biệt dễ tổn thương bởi vấn nạn xâm thực của biển, nhưng họ không phải duy nhất. Ở Florida, Mỹ chẳng hạn, nước biển dâng đã khiến nhiều nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn.

Điều đáng kinh ngạc ở đây là khu vực điều tra nhân khẩu học và y tế Chakaria, nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu lên sức khỏe con người, hiện là nghiên cứu kiểu này duy nhất tại châu Á.

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ - Ảnh 3.

Lũ ngập đến cổ người ở Hội An sau khi bị bão Damrey năm 2017 – Ảnh: Reuters

“Rất nhiều tiền đã được bỏ ra để can thiệp vào biến đổi khí hậu – tiến sĩ Hanifi nói – nhưng gần như không có tiền cho nghiên cứu những tác động lên sức khỏe cộng đồng. Mọi người đều nghĩ về điều này từ góc độ thảm họa môi trường. Không ai nghĩ về nó như một vấn nạn y tế”.

Thật ra, cũng đã có những nghiên cứu khác nhìn nhận biến đổi khí hậu như một vấn nạn y tế công. Rõ rệt nhất là với bệnh tiêu chảy. Ở nhiều nước mà người dân chưa được tiếp cận nước sạch, tỉ lệ nhiễm khuẩn E. coli gây tiêu chảy tăng mạnh vào mùa hè.

Một nghiên cứu năm 2016 đăng tải trên tập san về bệnh truyền nhiễm tổng hợp 15 nghiên cứu lớn ở 18 nước cho thấy vi khuẩn E. coli gây tiêu chảy tăng 8% cho mỗi một độ C nhiệt độ tăng thêm. Và Bangladesh một lần nữa là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất: riêng nước này sẽ có thêm 800.000 ca tiêu chảy mỗi năm tới năm 2035 với khí hậu cứ thay đổi như hiện nay.

Khí hậu và hiệu năng của chính quyền

Trong một nghiên cứu khác công bố tháng 8-2018, các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh rằng biến đổi khí hậu có tác động lên hiệu năng của chính quyền.

Các nhà nghiên cứu tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận là vào những ngày nóng quá mức ở Mỹ, các tai nạn xe hơi gây chết người và những vấn đề an toàn thực phẩm dễ xảy ra hơn, trong khi nhà chức trách ít can thiệp hơn.

Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ - Ảnh 4.

Nghiên cứu phát hiện vào những ngày quá nóng ở Mỹ, các tai nạn xe hơi gây chết người dễ xảy ra hơn trong khi nhà chức trách ít can thiệp hơn – Ảnh: Live Science

MIT đã phân tích dữ liệu từ khắp nước Mỹ và kết luận rằng nếu khí hậu tiếp tục biến đổi như hiện nay, tới năm 2050 thế giới sẽ kém an toàn hơn rất nhiều so với ngày nay.

“Cốt lõi của ý tưởng là khí hậu ảnh hưởng tới cách chúng ta làm việc, sinh hoạt và những rủi ro chúng ta đối mặt, đó là một ý tưởng thực ra khá đơn giản” – Nick Obradovich, đồng tác giả nghiên cứu và là chuyên gia ở Phòng thí nghiệm truyền thông của MIT, nói với CNN.

Obradovich và các đồng sự đã sử dụng một lượng dữ liệu cực lớn để hiểu các mô thức khí hậu ảnh hưởng lên các công tác quan trọng của chính quyền và đây là “lần đầu tiên, theo chúng tôi biết, việc này được thực hiện”.

“Nhiệt độ nóng về cơ bản là không tốt cho hoạt động của con người” – Obradovich nói và điều này đúng với nhiều hoạt động khác nhau: chất lượng giấc ngủ, tâm trạng, sức khỏe tâm thần, nguy cơ tự sát và năng suất làm việc.

Obradovich và các cộng sự đã phân tích dữ liệu từ hơn 70 triệu vụ cảnh sát chặn xe từ năm 2000 tới 2017 và 500.000 vụ tai nạn xe cộ có người chết từ 2001 tới 2015. Họ cũng xem xét 13 triệu vụ vi phạm an toàn thực phẩm (với các nhà hàng và cơ sở chế biến thực phẩm) được ghi nhận trong hơn 4 triệu cuộc thanh tra giai đoạn 2012-2016.

Nghiên cứu cho thấy xác suất một cơ sở thực phẩm bị thanh tra giảm xuống khi nhiệt độ vượt quá 26°C và giảm rất mạnh khi nhiệt độ là 30-40°C. Dữ liệu cũng cho thấy “số lượng vụ vi phạm an toàn thực phẩm tăng lên” cùng mức tăng nhiệt độ, theo lời Obradovich, một phần có thể vì trời nóng khiến đồ ăn dễ hư hơn.

Đáng nói là điều tương tự cũng đúng với các vụ tai nạn giao thông và hoạt động của cảnh sát. “Các vụ tai nạn chết người tăng lên vào những ngày nhiệt độ nóng” – Obradovich nói, trong khi số vụ cảnh sát chặn xe lại giảm xuống.

Kết luận ở đây là những nỗ lực đảm bảo an toàn công cộng giảm xuống, trong khi rủi ro xảy ra sự cố lại tăng lên cùng với nhiệt độ.

Là một lời khẳng định nữa về việc cần ngăn chặn biến đổi khí hậu, nghiên cứu này có nhiều ngụ ý hơn thoạt nhìn. Solomon Hsiang – giáo sư Trường chính sách công Goldman, Đại học California, Berkeley – viết trong một thư điện tử cho CNN rằng nghiên cứu cho thấy “môi trường tác động lên hiệu năng của các định chế chính trị”.

“Trong nhiều thập niên, giới khoa học xã hội đã mắc kẹt trong cuộc chiến chia phe giữa môi trường và các định chế chính trị – cái nào quyết định phúc lợi của một xã hội, tức địa lý luận và thể chế luận – Hsiang giải thích – Nghiên cứu này cho thấy môi trường tác động trực tiếp lên các định chế chính trị và tới lượt nó tác động lên xã hội”.

“Chúng ta đã biết từ lâu là năng lực nhận thức và năng suất của cá nhân giảm xuống ở những mức nhiệt độ cao” – Hsiang viết. “Những nơi đang trở nên nóng hơn, nhất là vào những mùa nóng trong năm, nhiều khả năng sẽ chịu nhiều tổn hại nhất” – Obradovich nói.

Nhưng mục đích nghiên cứu của Obradovich không phải là để dọa những dân nhiệt đới, mà là để hiểu chính xác các tác động của những điều kiện nhiệt độ cực đoan, “để chúng ta có thể tìm kiếm những cơ hội nhằm thích nghi và sửa chữa những gì sẽ trục trặc trong một khí hậu đang ngày càng thay đổi”.

Nguy cơ bệnh truyền nhiễm

“Biến đổi khí hậu có tác động trực tiếp lên sự phát triển, sống sót, duy trì, truyền nhiễm và lan rộng của các mầm bệnh” – các nhà khoa học của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) của Liên Hiệp Quốc năm 2014 cảnh báo.

Những vật truyền bệnh như muỗi rất nhạy cảm với khí hậu. Khi nhiệt độ tăng lên, chúng sẽ có thể sinh sôi ở những nơi trước đó quá lạnh với chúng. Các mầm bệnh chúng mang theo như sốt rét, sốt xuất huyết, sốt chikungunya sẽ lan theo cùng chúng.

Bệnh sốt xuất huyết dengue chẳng hạn, đã tăng gấp 30 lần trong 50 năm qua, khi khí hậu ngày một nóng lên, trong khi sốt chikungunya đã lan từ châu Phi và châu Á sang vùng Caribê, có thể sớm vào nội địa Mỹ nếu điều kiện khí hậu ấm hơn.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Biến đổi khí hậu và những hậu quả không ngờ

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/bien-doi-khi-hau-va-nhung-hau-qua-khong-ngo-20181207161340176.htm

Tàu thăm dò Mars InSight của NASA bất ngờ ghi được tiếng gió trên Sao Hỏa

Tàu thăm dò Mars InSight của NASA bất ngờ ghi được tiếng gió trên Sao Hỏa,

Tàu thăm dò Mars InSight của NASA bất ngờ ghi được tiếng gió trên Sao Hỏa - Ảnh 1.

Đồ họa của NASA mô tả hoạt động của tàu InSight trên sao Hỏa – Ảnh: NASA

Ông Bruce Banerdt, một nhà nghiên cứu của NASA, cho biết: “Ghi được âm thanh này là một phần thưởng không nằm trong kế hoạch. Một trong những nhiệm vụ của chúng tôi là đo chuyển động trên sao Hỏa, và theo lẽ tự nhiên, điều này gồm cả những chuyển động do sóng âm gây ra”.  

Theo NASA, tiếng gió thổi qua chiếc tàu thăm dò là âm thanh đầu tiên được ghi nhận từ sao Hỏa. Tuy tàu InSight không được trang bị micro nhưng âm thanh được phát hiện nhờ các cảm biến và máy đo địa chấn được dùng để đo sóng âm thanh.

Âm thanh gốc tàu thăm dò sao Hỏa Mars InSight ghi được 

Tom Pike, thành viên đội ngũ các nhà khoa học của InSight và là chuyên gia thiết kế cảm biến tại Đại học Hoàng gia London, cho biết: “Chiếc tàu InSight hoạt động như một đôi tai khổng lồ. Các tấm pin mặt trời ở hai bên thân tàu phản ứng với biến động áp lực của gió. Điều này giống như chiếc tàu InSight đang bịt tai và nghe thấy gió sao Hỏa đập vào nó. Khi quan sát hướng rung động của chiếc tàu đến từ các tấm pin mặt trời, nó khớp với hướng gió dự kiến tại khu vực bãi đáp của chúng tôi”.

Theo NASA, các cảm biến hoạt động giống như ốc tai, bộ phận trong tai có nhiệm vụ chuyển các rung động thành tín hiệu thần kinh.

Theo trang tin Euro News, NASA đã công bố một đoạn âm thanh thực và đoạn thứ hai trong đó âm thanh được nâng lên hai quãng tám để tai người nghe được tốt hơn, nhất là nghe qua máy tính xách tay hoặc loa thiết bị di động.

Ông Banerdt nói: “Đối với tôi, những âm thanh đó thực sự rất “vi diệu” theo kiểu không thuộc về Trái đất này. Nó nghe như tiếng gió hoặc có thể là tiếng ầm ầm của đại dương. Nhưng nó cũng mang lại cảm giác kỳ lạ về một âm thanh không đến từ Trái đất”.  

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Tàu thăm dò Mars InSight của NASA bất ngờ ghi được tiếng gió trên Sao Hỏa

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/tau-tham-do-mars-insight-cua-nasa-bat-ngo-ghi-duoc-tieng-gio-tren-sao-hoa-2018120907220203.htm